Thư viện Kiến nghị Tranh biện Việt Nam. Tra cứu kiến nghị từ các giải đấu và lưu lại để tập luyện.
37 kiến nghị phù hợpTừ 35 giải đấu
Ngoại giao Kênh I là hình thức ngoại giao liên quan đến các quy trình chính thức của chính phủ và các tương tác giữa các nhà ngoại giao, đại sứ và bộ ngoại giao của các quốc gia khác nhau. Đây được coi là công cụ chính cho các vấn đề hòa bình và an ninh vì nó ảnh hưởng đến các cấu trúc quyền lực chính trị. Ngoại giao kênh I cũng có thể mang lại nhiều công nhận hơn cho các mục tiêu chính trị, tăng tính phù hợp với luật pháp quốc tế và các nguồn lực ủng hộ. Hậu phương chiến lược có nhiệm vụ cung cấp các nguồn lực, động viên, cổ vũ tinh thần các lực lượng vũ trang tác chiến trên một hướng chiến lược hoặc chiến trường nhằm đạt mục tiêu chiến lược nhất định; là nơi xây dựng và dự trữ tiềm lực chủ yếu cả về chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa, khoa học kỹ thuật được huy động cho các lực lượng vũ trang theo kế hoạch tác chiến chiến lược. Trong xung đột, tỉ lệ phụ nữ tham gia ít hơn vào vai trò đàm phán, ngoại giao trực tiếp thường thấp hơn nhiều so với nam giới. Phụ nữ thường được khắc họa như những người đóng góp "sau hậu trường", đóng góp cho sự thành công trong các chiến dịch.
"Tiếng gọi đích thực"" (one true calling) là một đam mê hay mục tiêu sống mà có giá trị định nghĩa sự tồn tại của con người.
Nguyễn Thị Minh Thảo là một người phụ nữ đã bước vào tuổi tứ tuần. Cô có một công việc ổn định, với một mức lương trung bình. Cô không có chồng con và hiện đang sống tại một quốc gia dân chủ tự do. Kem là chú mèo cưng của Thảo, đang còn trẻ khoẻ và hay kêu meow meow mỗi khi muốn Thảo mang đồ ăn tới. Thế nên, Kem cũng có nguy cơ bị béo phì.
Trong trận tranh biện này, mô hình "đóng cửa" đề cập đến một lối sống trong đó các cá nhân bảo vệ bản thân nhiều hơn, không thể hiện cảm xúc nhiều và có xu hướng không tiết lộ thông tin cá nhân về bản thân. Ngược lại, mô hình “cởi mở” đề cập đến lối sống trong đó các cá nhân tự do bày tỏ cảm xúc, có xu hướng chia sẻ thông tin cá nhân với người quen và bạn bè (ngay cả khi không thân thiết) và dễ bị tổn thương hơn về mặt cảm xúc.
Phép ẩn dụ ""Các làn sóng"" (“Waves of feminism"") thường được sử dụng như một cách tiếp cận để giải thích nguồn gốc hình thành và sự phát triển của phong trào nữ quyền qua việc phân định các thời kỳ phát triển của phong trào theo tiến trình thời gian với các đặc trưng khác nhau. Trong đó, sự mô tả các làn sóng từ một đến ba thường lấy bối cảnh chủ yếu từ những đấu tranh và thảo luận về giới tại Mỹ. Những mô tả được công nhận rộng rãi về thời gian và đặc trưng của các làn sóng là như sau: (1) Làn sóng đầu tiên (1840-1920) được miêu tả như một phong trào chính trị đấu tranh cho quyền dân sự và chính trị của phụ nữ qua các hình thức như biểu tình và giảng dạy truyền bá, với thành tựu nổi bật nhất là đạt được quyền bầu cử cho phụ nữ. (2) Làn sóng thứ 2 (1960-1980) bắt nguồn từ giữa thập niên 60 được đặc tính hóa bởi sự lên tiếng chỉ trích vai trò giới đặt lên người nam và nữ, cũng như hệ thống các phân biệt dựa trên giới. (3) Làn sóng thứ 3 (1990 - ?) là những nỗ lực mở rộng các thảo luận về nữ quyền bên ngoài vấn đề giữa nam giới và nữ giới mà bao gồm nhiều danh tính hơn như tuổi tác, tầng lớp, chủng tộc, v.v và đấu tranh cho sự hiện diện của phụ nữ ở các vị trí quyền lực hơn. (4) Làn sóng thứ 4 (được cho là thời kỳ hiện đại) được đặc tính hoá bởi các diễn ngôn đấu tranh diễn ra chủ yếu trên Internet và mạng xã hội, nổi bật nhất là phong trào #MeToo. Ở thời điểm hiện tại, ""Các làn sóng"" được đề cập rất nhiều trong các diễn ngôn nữ quyền ở nhiều quốc gia và bối cảnh khác nhau.
Tình dục hóa là hành động đặt giá trị ngoại hình và sức hấp dẫn tình dục của một người lên trên tất cả các đặc điểm khác. Khi đó, người ấy trở thành đối tượng để người khác sử dụng với mục đích tình dục thay vì được coi là một cá thể có năng lực độc lập. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nữ giới thường bị tình dục hóa nhiều hơn hẳn nam giới trong các ấn phẩm truyền thông (ví dụ: mặc quần áo hở hang, với tư thế cơ thể hoặc nét mặt ngụ ý sự sẵn sàng tình dục) và bị vật hóa (ví dụ: được sử dụng như một vật trang trí, hoặc như các bộ phận cơ thể hơn là toàn bộ con người).