Thư viện Kiến nghị Tranh biện Việt Nam. Tra cứu kiến nghị từ các giải đấu và lưu lại để tập luyện.
32 kiến nghị phù hợpTừ 32 giải đấu
Info slide 1: “Thuyết chiến tranh chính nghĩa” (“Just War Theory”) là các nguyên tắc đạo đức nhằm giảm thiệt hại của chiến tranh. Trong lịch sử, các nguyên tắc này được chia thành 2 giai đoạn, ""công lý tiền chiến"" (“Jus ad bellum”) và ""công lý tham chiến"" (“Jus in bello”). Cùng nhau, 2 nguyên tắc này quy phạm các phạm trù sau: lí do tuyên chiến và thẩm quyền tuyên chiến, khả năng thành công của can thiệp quân sự, sự cần thiết về can thiệp quân sự, sự cân xứng trong mức độ phản hồi quân sự, sự bảo vệ dân thường, sự sử dụng vũ khí nhân đạo, và sự đối xử nhân đạo với tù nhân chiến tranh. Bộ luật Nhân đạo Quốc tế (International Humanitarian Law - IHL), hay còn gọi là luật Chiến tranh, là bộ luật quốc tế áp dụng nguyên tắc ""Jus ad bellum"" và ""Jus in bello."" Sau cuộc chiến Solferino, Công ước Geneva 1864 ra đời và đặt nền móng đầu tiên cho bộ luật IHL. Công ước Geneva 1949, sau Chiến tranh Thế giới Thứ Nhất và sự ra đời của Liên Hợp Quốc (UN), cùng các Nghị định thư Bổ sung năm 1977 dần hoàn thiện bộ luật IHL như hiện nay. Các văn kiện này đã được phần lớn các quốc gia công nhận và cam kết tuân thủ. Ngoài ra, Hội chữ Thập đỏ (ICRC), Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC), và Liên hợp Quốc (UN) nói chung cũng thi hành bộ luật IHL. Qua nhiều thập kỷ, IHL đã không ngừng phát triển và phản ánh những thay đổi trong phương thức chiến tranh và lĩnh vực quan hệ quốc tế. Info slide 2: Ngày nay, đặc biệt từ sau khi Chiến Tranh Iraq nổ ra năm 2003, một số học giả, ví dụ như Brian Orend tại Canada, đã dựa trên lý thuyết của triết gia Immanuel Kant từ thế kỷ 18 và xây dựng nguyên tắc ""công lý hậu chiến"" (""Jus post bellum""): tập trung vào tái thiết, trừng phạt tội ác chiến tranh, hòa giải mâu thuẫn hậu chiến, và bồi thường tương xứng cho các bên liên . Họ cho rằng các nguyên tắc này cần được pháp điển hoá* vào bộ luật IHL để đảm bảo việc tái thiết lại hoà bình lâu dài và ổn định sau chiến tranh. Tuy nhiên, một số luật sư nhân quyền quốc tế khác cho rằng các khái niệm trong nguyên tắc này về bản chất luôn mơ hồ, không thể định nghĩa được, và tiềm tàng nhiều ngại trong việc pháp điển, thi hành, và tuân thủ. Vì những lí do đó, hiện nay không có văn bản luật quốc tế nào quy phạm các nguyên tắc hậu chiến này. *Pháp điển hóa là hình thức cao nhất, hoàn chỉnh của công tác hệ thống hóa pháp luật. Trong đó, cơ có thẩm quyền tập hợp những văn bản đã có theo một trình tự nhất định, loại bỏ những quy phạm lỗi thời, mâu thuẫn, và chế định thêm những quy phạm mới nhằm thay thế cho những quy định bị loại bỏ và khắc phục những khoảng trống pháp lý."
Nam Phi là một quốc gia từng trải qua chế độ Apartheid kéo dài từ năm 1948 đến năm 1994. Trong thời kỳ này, người da đen và các nhóm sắc tộc không phải da trắng bị tước quyền công dân, bị loại khỏi các cơ hội giáo dục, y tế, quyền sở hữu đất và quyền tham gia vào các hoạt động kinh tế quan trọng. Sau khi chế độ Apartheid chấm dứt, chính phủ Nam Phi đã triển khai một loạt các chính sách được gọi là Black Economic Empowerment (BEE) nhằm khắc phục bất bình đẳng lịch sử. BEE tập trung vào việc trao quyền kinh tế cho người da đen, người da màu và người Ấn Độ. Chính sách này yêu cầu các doanh nghiệp ưu tiên người da đen trong quyền sở hữu, quản lý, tuyển dụng, đào tạo và chuỗi cung ứng. Các doanh nghiệp sẽ được chấm điểm BEE, điểm số càng cao thì càng có lợi trong đấu thầu hợp đồng nhà nước. Ngoài ra, chính sách cũng khuyến khích các công ty đầu tư vào phát triển cộng đồng người da đen. Tính đến năm 2025, dù thu nhập của các hộ gia đình người da đen đã tăng mạnh (46 % từ 2006 đến 2023), mức thu nhập trung bình của người da trắng vẫn gấp gần năm lần người da đen. Tuy nhiên, các đảng đối lập và Ngân hàng Thế giới đang cho rằng BEE cản trở thu hút đầu tư, trong khi Mỹ yêu cầu Nam Phi miễn áp dụng BEE với các doanh nghiệp Mỹ như một điều kiện để thúc đẩy quan hệ thương mại
Địa điểm du lịch tâm linh là những địa điểm được gắn với các giá trị văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo và phát triển các dịch vụ dành cho khách du lịch dựa trên những giá trị ấy. Ví dụ: Núi Yên Tử, Núi Bà Đen
Giới hạn "Cán cân xác suất" là giới hạn chứng minh thường được sử dụng trong thủ tục tố tụng dân sự. "Cán cân xác suất" có nghĩa rằng một điều gì đó phải có nhiều khả năng xảy ra hơn là không xảy ra, hoặc nói cách khác là khả năng điều đó xảy ra lớn hơn 50%. Giới hạn "Vượt qua nghi ngờ hợp lý" là tiêu chuẩn chứng minh được sử dụng trong thủ tục tố tụng hình sự. "Vượt qua nghi ngờ hợp lý" thường được thoả mãn trong trường hợp sau khi xem xét các chứng cứ, tòa án cảm thấy các chứng cứ của vụ án đều chỉ ra là bị cáo có tội. Sự “cảm thấy” này không thể chỉ là “linh cảm” dựa vào “trực giác”, mà nó phải xuất phát từ bằng chứng đạo lý của con người.
"Bồi thẩm đoàn" được tạo nên từ những công dân đại diện cho đa dạng các nhóm trong cộng đồng, bao gồm cả những người có đặc điểm giống với người nhập cư về các đặc điểm kinh tế-xã hội bao gồm nhưng không giới hạn chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, trình độ học vấn,
Trong trận tranh biện này, sự bình thường hóa có thể trông như là không coi những trải nghiệm khó khăn về sức khỏe tâm thần là khác biệt so với những trạng thái tâm lý và trạng thái sức khỏe thể chất khác. Sự bình thường hóa chấp nhận mọi cảm xúc tiêu cực như trầm cảm, và lo lắng, như một trải nghiệm sức khỏe bình thường. Các phương pháp chữa lành có thể trông như là sự hỗ trợ từ bên ngoài, bao gồm nhưng không giới hạn việc tìm đến những môi trường tích cực để cảm thấy bớt tiêu cực hơn, và dịu đi vết thương tinh thần.
“Tính trung lập của công ty” đề cập đến một bộ chính sách được thực hiện tại một số công ty. Các chính sách này cấm diễn ngôn chính trị hay thể hiện quan điểm về các vấn đề xã hội của nhân viên trên mọi nền tảng. Ngoài ra, cũng cấm các cuộc thảo luận tại nơi làm việc liên quan đến chính trị và xã hội ngoài phạm vi sứ mệnh của công ty.
Trong những năm gần đây, các chương trình giải trí xoay quanh các chủ đề xã hội gây tranh cãi đã xuất hiện ngày càng nhiều. Một ví dụ tiêu biểu là kênh YouTube "Jubilee", nổi tiếng với các series như Middle Ground và Surrounded. Các video trên kênh này thường đạt hàng triệu lượt xem với nội dung là các cu ộc tranh luận giữa hai phe có quan điểm trái ngược, chẳng hạn như: "Trump vs Harris 2024", "Nhà vận động Nữ quyền vs Nhà vận động Nam quyền", "Israel vs Palestine", "Hindu vs Muslim", v.v. Những cuộc tranh luận tại các chương trình này thường bị giới hạn về mặt thời gian và lượt nói. Người tham gia chương trình có xuất thân đa dạng và không cần phải nghiên cứu hay có chuyên môn về chủ đề họ tranh luận.
Các phong trào quyền nam giới bao gồm các nhóm và cá nhân tập trung vào vấn đề do xã hội hoặc chính phủ gây bất lợi, phân biệt đối xử với nam giới và trẻ em trai. Các mối quan tâm của phong trào quyền nam giới bao gồm nhưng không giới hạn đến sự ưu ái dành cho phụ nữ trong luật gia đình (quyền nuôi con, tiền cấp dưỡng và phân phối tài sản hôn nhân,..), sinh sản, bạo lực gia đình đối với nam giới, quân dịch bắt buộc, mạng lưới an sinh xã hội và các chính sách y tế,..v.v . Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng phong trào quyền nam giới là một phần của việc kỳ thị nữ giới và chống đối nữ quyền.
Kể từ những năm 1980, lý thuyết xã hội học thường vướng phải các thách thức về sắc thái ("nuance"), và điều này đã gia tăng đều đặn trong các tài liệu học thuật. Các biểu hiện bao gồm nhưng không giới hạn: + Chất vấn cách lí thuyết xử lý các khía cạnh đa dạng về chủ thể, cấu trúc, văn hóa, thời gian; + Đòi hỏi các phương diện trên phải được đưa vào một framework chỉ vì chúng nhìn chung là "quan trọng"; + Nghi vấn tính hợp lệ của nghiên cứu nếu cho rằng chúng thiếu hoặc chưa đủ sắc thái,... Việc theo đuổi sắc thái không ngừng nghỉ này được cho rằng cản trở quá trình khái quát hóa tri thức - một trong những điều kiện tiên quyết để xây dựng lý thuyết vững chắc
UGC (User-Generated Content) là những nội dung do người dùng cá nhân tự tạo ra, đăng tải và lan truyền trên các nền tảng số, thay vì được sản xuất bởi các tổ chức truyền thông, cơ quan chuyên môn hay đơn vị chính thức.
Hợp tác nuôi con phi lãng mạn" (Platonic Co-parenting / Intentional Co-parenting) là mô hình gia đình tự nguyện, trong đó hai (hoặc nhiều) người trưởng thành quyết định cùng nhau tạo ra (thường qua thụ tinh nhân tạo - IVF) hoặc nhận nuôi một đứa trẻ, và cùng chia sẻ trách nhiệm nuôi dưỡng đứa trẻ đó, dù giữa họ hoàn toàn không có mối quan hệ tình cảm lãng mạn hay tình dục.