Thư viện Kiến nghị Tranh biện Việt Nam. Tra cứu kiến nghị từ các giải đấu và lưu lại để tập luyện.
8 kiến nghị phù hợpTừ 8 giải đấu
Cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân và hiện đại hóa, các tôn giáo bản địa ở Châu Á (đặc biệt là Phật giáo) đứng trước các phong trào biến đổi sâu rộng với hai khuynh hướng chính. Khuynh hướng phổ biến là khuynh hướng hiện đại, bao gồm nhưng không giới hạn việc: - Giảm bớt các nghi lễ cúng bái, tín ngưỡng dân gian; tập trung vào việc học tập, nghiên cứu giáo lý và kinh điển. - Nhấn mạnh tôn giáo như một hệ thống triết học, đạo đức, có tính logic và phù hợp với khoa học. - Đưa tôn giáo tham gia trực tiếp vào việc mở trường học, làm từ thiện, xuất bản báo chí và các hoạt động xã hội. (Ví dụ: Phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam, Phật giáo Minh Trị ở Nhật Bản, cải cách của Thiền sư Thái Hư ở Trung Quốc). Ở một vài trường hợp khác, các nhóm tôn giáo địa phương đi theo khuynh hướng bảo tồn hoặc quy nguyên, bao gồm nhưng không giới hạn việc: - Giữ nguyên các nghi lễ truyền thống, hoạt động cúng lễ dân gian và cấu trúc quản lý tâm linh tại các chùa/đền địa phương. - Từ chối việc điều chỉnh giáo lý theo các tiêu chuẩn tư duy hoặc mô hình tôn giáo từ Phương Tây.
Giảm trưởng (hay hậu tăng trưởng) là một học thuyết kinh tế - xã hội với chủ trương cắt giảm quy mô sản xuất và tiêu thụ một cách có kế hoạch. Mục tiêu là bền vững môi trường, giảm bất bình đẳng, nâng cao hạnh phúc cộng đồng thông qua làm việc chia sẻ, tiêu dùng ít hơn và chống chủ nghĩa tư bản. Các chính sách giảm trưởng thường thúc đẩy sự phát triển đều giữa các khu vực trong một quốc gia thay vì tập trung vào một số thành phố hay trung tâm công nghiệp. Đồng thời cũng vận động chống đô thị hóa nặng nề. Thế nhưng, cũng có những chỉ trích cho rằng sự phi tập trung về quản lý giao thông vận tải và tài nguyên dẫn đến sự phát triển chậm và tốn kém.
Kích thích tài khoá là khi chính phủ trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế bằng cách tăng chi tiêu công hoặc giảm thuế để người dân và doanh nghiệp có nhiều tiền hơn để tiêu dùng và đầu tư. Ví dụ, chính phủ có thể xây dựng cơ sở hạ tầng, trợ cấp doanh nghiệp hoặc hỗ trợ tiền cho người dân nhằm tăng tổng cầu (tổng nhu cầu mua sắm hàng hoá, dịch vụ và đầu tư trong nền kinh tế) và tạo việc làm. Kích thích tiền tệ là khi Ngân hàng Trung ương thúc đẩy nền kinh tế bằng cách giảm lãi suất hoặc tăng cung tiền (lượng tiền đang lưu thông trong nền kinh tế, được bơm thêm thông qua các công cụ như mua trái phiếu hoặc cho vay với lãi suất thấp) để việc vay vốn trở nên dễ dàng hơn. Khi lãi suất thấp, người dân sẽ có xu hướng vay tiền để tiêu dùng nhiều hơn, còn doanh nghiệp sẽ vay để mở rộng đầu tư và sản xuất.
Thời vua Lý Thái Tông (1028 - 1054) là khúc giao thời rực rỡ, đưa xã hội thoát ly khỏi dư chấn chiến tranh và nạn cát cứ để bước vào kỷ nguyên thống nhất. Khi bắt đầu triều đại, các thế lực địa phương và các dòng tộc lớn tuy không còn nắm sức mạnh quân sự riêng biệt nhưng các thủ lĩnh địa phương vẫn có thể nổi dậy và tranh giành quyền lực hoặc đòi quyền tự trị. Hơn nữa quy tắc truyền ngôi chỉ mới bắt đầu thống nhất để ngăn chặn việc tranh chấp đẫm máu giữa các hoàng tử và các thế lực ngoại thích. Hình Thư triều nhà Lý là bộ luật đầu tiên của Việt Nam được ban hành bởi vua Lý Thái Tông năm 1042, là tiền đề cho tư duy lập pháp của đất nước sau này. Bộ luật này mang tính thống nhất cao, đề cao vị thế vua và hoàng gia, chú trọng tạo điều kiện cho sự phát triển văn minh nông nghiệp nước nhà,... Phật giáo thời Lý là Quốc giáo, ảnh hưởng chi phối đến cả chính trị và pháp luật. Vua Lý Thái Tông và các vua đời sau lấy sự từ bi và "đức trị" làm gốc. Nhiều điều luật cho phép người già, trẻ nhỏ hoặc người phạm tội nhẹ được nộp tiền chuộc tội thay vì chịu hình phạt thể xác (như chịu trượng, tù đày), giảm nhẹ hình phạt hoặc hoãn thi hành án cho người đang chịu tang (đặc biệt là tang cha mẹ), nhà vua cũng thường xuyên ban lệnh đại xá, giảm án cho tù nhân nhân các dịp lễ hội Phật giáo lớn hoặc khi xây dựng chùa chiền để tích đức cho quốc gia. Tuy nhiên, một số sử gia về sau này phê phán rằng luật pháp vì đề cao sự độ tha mà có nhiều lỗ hổng, nhà vua vì lòng trắc ẩn của đạo Phật mà tha bổng những kẻ nguy hại, bỏ qua sự nghiêm minh của pháp luật và trọng trách với quốc gia. Như khi Nùng Trí Cao làm phản, Lý Thái Tông bắt được không giết mà lại phong tước Thái bảo, gián tiếp dẫn đến Nùng Trí Cao có cơ hội tiếp tục phản nghịch gây tai hoạ. Hay cũng có phê phán cho rằng các đời vua Lý thiên vị Phật Giáo mà bỏ qua nghĩa lớn với đất nước, như vua Lý Thần Tông quy công đánh giặc cho Phật và đạo, đi các chùa quán lạy tạ mà không uý lạo tướng sĩ.