Thư viện Kiến nghị Tranh biện Việt Nam. Tra cứu kiến nghị từ các giải đấu và lưu lại để tập luyện.
97 kiến nghị phù hợpTừ 35 giải đấu
"""Global South"" is a broad term that generally refers to countries that are located in the southern hemisphere. Often the nations can be less developed than the countries in the northern hemisphere. The term is often used to refer to countries in Africa, Latin America, and Asia, but it can also include other regions such as the Pacific Islands and the Caribbean. The examples of economic development projects at the expense of natural reserves in the global south are but not limited to the deforestation in the Amazon rainforest and the Son Doong cave in Vietnam that has attracted thousands of tourists."
*To nationalise means to transfer from private or regional ownership and control to state/government ownership and control."
Mô hình chủ-sở-hữu kiểm soát (owner-controlled firms) là mô hình mà ở đó các cổ đông có quyền được ảnh hưởng đáng kể đến các quyết định của công ty (chính sách công ty, bổ nhiệm các vị trí quản lý cấp cao, v.v.). Mô hình nhà-quản-lý kiểm soát (manager-controlled firms) là mô hình mà ở đó không có một hay một nhóm cổ đông nào có quyền biểu quyết đủ cao để ảnh hưởng đến các quyết định của công ty.
"Yass" là một từ lóng, xuất phát từ cụm từ "Yes, queen" trong cộng đồng LGBT+. Nó được sử dụng để bày tỏ sự ủng hộ, phấn khích hoặc đồng cảm với người khác. Từ này thường được sử dụng để đáp lại những hành động, ý kiến hoặc thành công đáng mừng của ai đó. “Gaslight” là một thuật ngữ xuất phát từ một bộ phim mang tên "Gaslight" (1944). Nó được sử dụng để chỉ một hành vi cố ý đánh lừa người khác bằng cách gây ra sự nghi ngờ vào sự tồn tại của sự thật. "Yasslight" là từ lóng kết hợp giữa “yass” và “gaslight”. Qua đó, “yasslight” chỉ việc khi một người ủng hộ, phấn khích hoặc đồng cảm với người thuộc cộng đồng LGBTQIA+ mặc dù thực tế họ không thật sự cảm thấy hoặc không chân thành trong việc này. Điều này có thể dẫn đến một sự khác biệt giữa những gì người đó thể hiện bên ngoài và cảm xúc thật sự của họ.
Cơ chế tuyển sinh của nhiều trường đại học Hoa Kỳ sử dụng đánh giá toàn diện (holistic review). Theo cách thức này, các trường đại học sẽ đánh giá hồ sơ tuyển sinh dựa trên nhiều thang đo khác nhau. Ngoài thành tích học thuật, những yếu tố được đánh giá khác có thể kể đến như hoạt động ngoại khóa, hoàn cảnh gia đình, chủng tộc. Tại Hoa Kỳ, chính sách nâng đỡ (Affirmative Action) đang được áp dụng với mục đích chấm dứt và khắc phục hậu quả của phân biệt đối xử. Chính sách có xu hướng tập trung vào khả năng tiếp cận giáo dục và việc làm của các nhóm thiểu số chịu bất công trong lịch sử, như người Mỹ gốc Phi. Những người chỉ trích chính sách nâng đỡ cho rằng chính sách này vẫn đưa quyết định dựa trên chủng tộc, vốn có thể vi phạm Hiến pháp Hoa Kỳ. Hiện tại, hai vụ kiện bởi Edward Blum và tổ chức Sinh viên vì Tuyển sinh Công bằng (Students for Fair Admission) nhằm vào yếu tố chủng tộc trong cơ chế tuyển sinh của trường đại học Harvard và Bắc Carolina đang được xem xét bởi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Nếu Tòa án Tối cao Hoa Kỳ phán quyết cho bên bị đơn, rất có thể yếu tố chủng tộc sẽ không được xem xét trong cơ chế tuyển sinh của hầu hết trường đại học ở Hoa Kỳ. Thay vào đó, đã có đề xuất thay thế cơ chế tuyển sinh đặt nặng chủng tộc bằng cơ chế đặt nặng địa vị kinh tế - xã hội của học sinh.
(Info-slide: QTTS là chương trình đào tạo mở rộng cho sinh viên ra mới ra trường và người có kinh nghiệm làm việc dưới 2 năm. Chương trình sẽ diễn ra trong 2 năm, ứng viên sẽ làm việc và được luân chuyển liên tục giữa các phòng ban. Ngoài mức lương mơ ước trong chương trình (trung bình $1000/tháng), kết thức 2 năm, ứng viên nếu hoàn thành tốt chương trình huấn luyện trên sẽ đảm nhiệm các vị trí quản lý trung - cao cấp. Chương trình QTTS gồm các vòng thi: Duyệt hồ sơ, test logic và IQ, phỏng vấn quản lý trực tiếp, xử lý case-study, phỏng vấn với bộ phận nhân sự.)