Thư viện Kiến nghị Tranh biện Việt Nam. Tra cứu kiến nghị từ các giải đấu và lưu lại để tập luyện.
30 kiến nghị phù hợpTừ 30 giải đấu
Cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân và hiện đại hóa, các tôn giáo bản địa ở Châu Á (đặc biệt là Phật giáo) đứng trước các phong trào biến đổi sâu rộng với hai khuynh hướng chính. Khuynh hướng phổ biến là khuynh hướng hiện đại, bao gồm nhưng không giới hạn việc: - Giảm bớt các nghi lễ cúng bái, tín ngưỡng dân gian; tập trung vào việc học tập, nghiên cứu giáo lý và kinh điển. - Nhấn mạnh tôn giáo như một hệ thống triết học, đạo đức, có tính logic và phù hợp với khoa học. - Đưa tôn giáo tham gia trực tiếp vào việc mở trường học, làm từ thiện, xuất bản báo chí và các hoạt động xã hội. (Ví dụ: Phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam, Phật giáo Minh Trị ở Nhật Bản, cải cách của Thiền sư Thái Hư ở Trung Quốc). Ở một vài trường hợp khác, các nhóm tôn giáo địa phương đi theo khuynh hướng bảo tồn hoặc quy nguyên, bao gồm nhưng không giới hạn việc: - Giữ nguyên các nghi lễ truyền thống, hoạt động cúng lễ dân gian và cấu trúc quản lý tâm linh tại các chùa/đền địa phương. - Từ chối việc điều chỉnh giáo lý theo các tiêu chuẩn tư duy hoặc mô hình tôn giáo từ Phương Tây.
Infoslide 1: Cao, ôi! cao vời vợi, những cánh rừng mục nát đã qua cả thiên thu, tiếng thác ngàn đời đổ trong dòng vĩnh cửu; nơi khe núi quanh co, gió đạp gió sao mà mãi mê cuồng, mà mãi hoang lạnh. Nước từ trời biếc gieo mình xuống vực thẳm, đá kề tai người rì rầm chuyện hồng hoang; những vách núi đen rịn lệ bên đường vắng một linh hồn cổ xưa cất dài tiếng tiếng thở than. Dòng nước cuồng quay giữa vực sâu hoắt, mây không xích trôi về cõi vô cùng; hỗn loạn trong thanh bình, bóng tối trong ánh sáng, đập, từng đập, nhịp nhàng một linh hồn. Phản chiếu một dung nhan, nhận cùng một nguồn cội, chẳng khác đâu, muôn cánh hoa nở trên cùng một nhánh. Ôi! những mật tự của Đại Khải Huyền, những dấu thiêng của cõi đời vĩnh viễn: của những khắc đầu, và những khắc cuối, của mọi giây trong những miền ở giữa, và của những điều không bao giờ cùng tận. (Dịch từ The Simplon Pass bởi William Wordsworth) Infoslide 2: Hãy lên đường về Ấn Độ, hỡi linh hồn! Hãy làm sáng tỏ những huyền thoại Á Đông, những cổ tích nguyên sơ của nhân loại. Không chỉ riêng các ngươi, mà cả những chân lý kiêu hãnh của thế gian; không phải chỉ riêng các ngươi, mà cả những sự thật của khoa học hiện đại. Và còn cả những huyền thoại của thời hồng hoang, những truyền thuyết của Á châu, của Phi châu; những dòng sáng tinh thần phóng vút trông xa; những giấc mộng chưa từng bị xích buộc; những kinh sách và huyền sử lặn sâu vào vực thẳm; những cốt truyện táo bạo của thi nhân; những tôn giáo cổ xưa nhất của loài người. Ôi những ngôi đền đẹp hơn hoa huệ, đang bừng sáng trong ánh mặt trời đang lên! Ôi những huyền thoại khước từ điều đã biết, thoát khỏi vòng giam giữ của những gì muôn thuở, để mà bay vút lên tận thiên không! Ôi những tòa tháp rực rỡ và siêu việt, chóp tháp đỏ như hoa hồng, dát vàng lấp lánh! Những tháp đài bất tử của huyền thoại, được dựng nên từ những giấc mơ hữu hạn của con người! Ta cũng đón nhận các ngươi, trọn vẹn như đón nhận mọi điều khác; ta cũng ca ngợi các ngươi, bằng tất cả niềm hân hoan. Hành trình về Ấn Độ! Kìa, hỡi linh hồn! Ngươi chẳng thấy ý chỉ của Thượng Đế ngay từ thuở ban đầu sao? Rằng mặt đất này phải được nối liền, được giăng kín bằng những mạng lưới liên kết; rằng các dân tộc phải trở thành láng giềng, phải kết hôn và trao nhau hoa cưới; rằng đại dương phải được vượt qua, khoảng cách phải được kéo lại gần; rằng mọi miền đất phải được hàn, phải được gắn thành một và một. Ta hát lên một tín ngưỡng mới: Hỡi những vị thuyền trưởng, những người du hành, và những kẻ đi khai phá Bài ca này ngân lên cho các ngươi; hỡi những kỹ sư, kiến trúc sư, và những người thợ máy Bài ca này cũng ngân lên vì các ngươi. Bởi công trình của các ngươi không chỉ vì thương mại, không chỉ vì chuyên chở; mà nhân danh Thượng Đế, và vì chính ngươi, hỡi linh hồn. (Dịch từ Passage O Soul to India! bởi Walt Whitman)
Dựa trên học thuyết của Thánh Augustine, Giáo hội Công giáo Rôma tin rằng tất cả con người sinh ra đều kế thừa Tội Nguyên Tổ (peccatum originale). Do Adam và Eva chọn làm trái lời Thiên Chúa, con cháu của họ, tức nhân loại, chịu hệ quả (reatus) là mất đi sự bất tử. Nhưng bên cạnh đó, nhân loại còn chịu cả phần tội khiên (culpa) của Adam. Từ đó, mọi đứa trẻ sinh ra đã mắc tội lỗi, bị vấy bẩn, mất Ân sủng của Chúa (charis), và có khuynh hướng tha hóa hướng về Dục vọng (concupiscence). Từ giây phút chào đời, hành trình tôn giáo của con người là sự Chuộc Tội và kiếm tìm sự Cứu rỗi (apolutrosis). Trong Chính thống Ki-tô giáo Đông Phương hay Do Thái Giáo, con người vẫn mất đi sự bất tử tại Vườn Địa đàng như hình phạt chung (reatus) cho hành động của Adam và Eva. Tuy nhiên, từng con người sau hai Nguyên Tổ được sinh ra vẫn là một bản thể hoàn hảo, thuần khiết của Chúa, không bị ảnh hưởng bởi tội khiên (culpa) của tổ tiên mình. Đặc biệt trong Do Thái Giáo, con người có cả khuynh hướng Thiện (yetzer hara) và Ác (yetzer hatov). Và vì vậy, hành trình tôn giáo của con người là hướng tới cái Thiện và tái hợp với Chúa (Teshuva - Do Thái Giáo) hay để gìn giữ và trở thành hình ảnh phản chiếu chân thực của Chúa (Theosis - Chính thống Đông Phương Giáo).
Đấng cứu thế là một nhân vật được các nhà tiên tri báo trước là sẽ được phái xuống trần gian để giải cứu nhân loại, thiết lập công lý, và mang lại bình an.
Tranh biện viên là những người thường xuyên hoặc đã từng thường xuyên tham gia các giải đấu tranh biện và cảm thấy gắn bó với tranh biện. Đa số các tranh biện viên coi tranh biện như một hoạt động ngoại khoá hoặc sở thích; họ có thể có công việc liên quan hoặc không liên quan đến tranh biện.
Khái niệm "aniconism" chỉ việc từ chối và cấm đoán việc tạo hình ảnh, biểu tượng, hay sáng tạo nghệ thuật dựa trên các thực thể thần thánh hay các nhân vật thiêng liêng trong một số tôn giáo và nền văn hoá. Aniconism thường được thảo luận trong bối cảnh nghiên cứu tôn giáo, nghệ thuật, và văn hóa. Chẳng hạn, trong các cuộc thảo luận về nghệ thuật Hồi giáo, aniconism được xem là một phần quan trọng trong lý thuyết mỹ thuật của tôn giáo này, nơi mà các hình ảnh của Thượng đế hay các vị tiên tri bị cấm.
Khổ tu thường được thực hành trong các bối cảnh tâm linh và tôn giáo, bao gồm việc kiêng khem tuyệt đối những tiện nghi, từ bỏ hoàn toàn các vật chất, ham muốn về tình dục hoặc các nhu cầu khác, kiêng ăn trong khoảng thời gian dài để tập trung vào sự phát triển tinh thần hoặc sám hối.
Thuyết luân hồi là một khái niệm triết học và tôn giáo phổ biến trong nhiều tôn giáo Đông phương, như Ấn Độ giáo, Phật giáo, Kỳ Na giáo, và một số truyền thống khác. Thuyết này cho rằng linh hồn hoặc tinh thần của một người không chết sau khi thân xác chết đi mà thay vào đó sẽ tái sinh vào một cơ thể mới. Quá trình này được gọi là luân hồi. Các yếu tố chính của Thuyết luân hồi là tái sinh, nghiệp và mục tiêu giải thoát.
Đạo hiếu là lòng tôn kính và thực hiện một số bổn phận nhất định dù bất kể ra sao của một người dành cho người được coi là cha mẹ mình và những người đẻ ra cha mẹ mình.